Doanh nghiệp, hiệp hội chung tay giữ nhịp sản xuất nông nghiệp
Xung đột Trung Đông đang gây đứt gãy chuỗi cung ứng, đẩy chi phí logistics và vật tư đầu vào tăng mạnh, tạo áp lực trực tiếp lên sản xuất nông nghiệp và sức cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam. Trong bối cảnh đó, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trần Đức Thắng đã có thư ngỏ kêu gọi cộng đồng doanh nghiệp, đặc biệt là các đơn vị cung ứng vật tư đầu vào và logistics, giữ ổn định hoặc giảm giá, tối đa hóa công suất để đảm bảo nguồn cung trong nước và hỗ trợ sản xuất.
Hưởng ứng lời kêu gọi, nhiều doanh nghiệp và hiệp hội ngành hàng đã triển khai các giải pháp cụ thể theo tinh thần “lợi ích hài hòa, rủi ro chia sẻ".
Doanh nghiệp thức ăn chăn nuôi kìm giá
Ngành công nghiệp thức ăn chăn nuôi Việt Nam hiện đang phụ thuộc phần lớn vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu, với nhiều loại nguyên liệu chính chủ yếu đến từ các nước châu Mỹ.
Thông thường, nguyên liệu từ châu Mỹ sẽ đi đường biển qua Đại Tây Dương vào Địa Trung Hải, rồi qua kênh đào Suez và Biển Đỏ vào Ấn Độ Dương và đi tới các cảng ở Việt Nam. Với lộ trình hàng hải như vậy, kể từ khi xảy ra xung đột Trung Đông, giá nguyên liệu thức ăn chăn nuôi nhập khẩu đang bị tác động mạnh, khi các tàu biển chở đậu nành, ngô... buộc phải tránh Biển Đỏ, đi vòng qua mũi Hảo Vọng để về Việt Nam.
Dù đang chịu áp lực lớn về chi phí sản xuất thức ăn chăn nuôi, nhiều công ty đang có những hành động thiết thực để chia sẻ, đồng hành với người chăn nuôi.
Ông Chamnan Wangakkarangkul, Phó Tổng Giám đốc điều hành C.P. Việt Nam cho biết, C.P. Việt Nam đang nỗ lực kìm giữ giá thức ăn chăn nuôi thành phẩm. Trong trường hợp chi phí nguyên liệu, chi phí sản xuất, vận chuyển thức ăn chăn nuôi tăng cao và kéo dài khiến C.P. Việt Nam buộc phải tăng giá thức ăn chăn nuôi thì công ty sẽ cố gắng tăng ở mức chậm nhất và thấp nhất có thể.
Với Japfa Comfeed Việt Nam, giải pháp của công ty là tăng cường hỗ trợ kỹ thuật, con giống cho người chăn nuôi để giúp họ vẫn đạt hiệu quả kinh tế ngay cả khi giá thức ăn tăng.
Ông Nguyễn Minh Trí, đại diện Công ty Japfa Comfeed Việt Nam chia sẻ, trong thời gian gần đây, do chi phí vận chuyển và giá nguyên liệu đầu vào trên thị trường thế giới biến động mạnh và kéo dài, Japfa buộc phải có sự điều chỉnh giá thức ăn chăn nuôi để đảm bảo duy trì chất lượng sản phẩm và nguồn cung ổn định cho thị trường.
Song song với việc điều chỉnh giá, Japfa tiếp tục đẩy mạnh các chương trình hỗ trợ kỹ thuật và dinh dưỡng, tập trung vào việc tối ưu hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR), cải thiện hiệu quả chăn nuôi, triển khai các chương trình hỗ trợ con giống, cũng như tăng cường đào tạo và tư vấn kỹ thuật cho người chăn nuôi.
Doanh nghiệp lúa gạo chủ động thu mua
Xung đột Trung Đông đang đặt ngành lúa gạo ở "thế khó", nhưng một số doanh nghiệp vùng ĐBSCL nhận định "đây là cơ hội lịch sử của ngành gạo Việt Nam".
Ông Phạm Hoàng Lâm, Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty Cổ phần Lam Rice Group Inc (TP Hồ Chí Minh), cho biết, ông nhìn thấy 3 cơ hội rất lớn cho ngành trong thời gian tới.
Thứ nhất, trước biến động, các quốc gia ngày càng quan tâm đến nguồn cung ổn định và dài hạn. Đây sẽ là cơ hội để Việt Nam trở thành đối tác chiến lược về lương thực. Thứ hai, các thị trường như: Hoa Kỳ, Canada, EU đang chuyển hướng mạnh sang phân khúc gạo thơm, sạch và truy xuất nguồn gốc, là cơ hội cho các giống gạo như ST25 của Việt Nam. Thứ ba, giá trị gạo hiện không chỉ nằm ở sản xuất mà là thương hiệu, hệ thống phân phối và kênh bán lẻ.
Do đó, để nước ta trở thành quốc gia dẫn dắt thị trường, ông Lâm nhấn mạnh, việc xây dựng thương hiệu gạo quốc gia thực sự, không chỉ là "Vietnam Rice" mà là "Vietnam Premium Rice" có định vị rõ ràng, tiêu chuẩn và câu chuyện sẽ tạo ra sự đột phá cho ngành hàng lúa gạo.
Bên cạnh đó, ngành lúa gạo cần phát triển 5 - 10 doanh nghiệp đủ mạnh, để cạnh tranh quốc tế. Những doanh nghiệp này phải đảm bảo về vốn, có chiến lược, hệ thống toàn cầu để không chỉ đóng vai trò xuất khẩu mà còn xây dựng thị trường. Đặc biệt là doanh nghiệp phải xây dựng được hệ thống phân phối tại nước ngoài để làm chủ thị trường.
Lãnh đạo Lam Rice Group cam kết, sẽ đầu tư vùng nguyên liệu, nâng cao chất lượng sản phẩm, đồng hành cùng ngành hàng lúa gạo xây dựng thương hiệu gạo Việt và phát triển thị trường quốc tế bền vững.
Thông tin khởi sắc mà ông Nguyễn Vĩnh Trọng, Giám đốc Công ty TNHH Việt Hưng (tỉnh Đồng Tháp) - một trong những nhà xuất khẩu gạo lớn của Việt Nam vào thị trường Trung Quốc vừa chia sẻ, đầu năm 2026, thị trường này tăng nhập khẩu gạo của Việt Nam. Hiện Trung Quốc đã tiêu thụ hơn 60% hạn ngạch nhập khẩu gạo của năm 2026, dự kiến còn khoảng 500.000 tấn từ nay đến cuối năm.
Trong khi đó, thị trường châu Phi vẫn còn nhu cầu cao, nên sẽ tiếp tục tăng mua những tháng tới.
Với tình hình này, ông Trọng nhận định, thời gian tới doanh nghiệp Việt Nam sẽ có thêm dư địa tăng trưởng, chủ động xây dựng kế hoạch sản xuất, thu mua tạm trữ cho bà con nông dân.
Để chủ động ứng phó trong tình hình mới, Công ty Xuất nhập khẩu Chơn Chính (tỉnh Đồng Tháp) đang nỗ lực mở rộng, đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, mục đích nhằm "nếu tắc đường này sẽ đi đường khác".
Ông Trương Văn Chính, Giám đốc Công ty Chơn Chính cho biết, vụ đông xuân 2025 - 2026, doanh nghiệp đang đẩy mạnh thu mua khoảng 200.000 tấn lúa của nông dân. Một phần sản lượng gạo được giao dịch thông qua đối tác tại châu Phi, sau đó chuyển đến Trung tâm giao dịch tại Dubai.
Ông Phạm Thái Bình, Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty Cổ phần Nông nghiệp công nghệ cao Trung An (TP Cần Thơ), chia sẻ, cộng đồng doanh nghiệp sẵn sàng đồng hành cùng Bộ Nông nghiệp và Môi trường, tích cực thu mua lúa tạm trữ cho nông dân trong các cánh đồng liên kết.
Hiện Công ty Trung An đang liên kết thu mua khoảng 9.000 ha lúa vụ đông xuân, sản lượng khoảng 81.000 tấn cho nông dân vùng ĐBSCL. Nhờ tham gia liên kết, bà con nông dân được hưởng mức giá tương đối ổn định hơn, khoảng 6.000 đồng/kg (giống Đài Thơm 8), nếu đạt tiêu chuẩn có thể tăng lên 6.100 - 6.200 đồng/kg.
Doanh nghiệp lúa gạo cụ thể hóa lời kêu gọi của Bộ trưởng Nông nghiệp và Môi trường
Ông Nguyễn Việt Anh, Tổng Giám đốc Công ty TNHH Lương thực Phương Đông (ORICO) cho biết, về nguồn vốn thu mua lúa gạo không phải là vấn đề lớn và bản thân doanh nghiệp không thiếu vốn nhờ sử dụng đúng mục đích. Tuy nhiên, với quy mô sản xuất toàn vùng ĐBSCL lên tới khoảng 1,5 triệu ha trong vụ đông xuân, lượng lúa hàng hóa dồn ra thị trường trong 1 - 1,5 tháng là quá sức chứa của toàn bộ hệ thống thu mua, từ thương lái đến doanh nghiệp. Ngay cả khi huy động tối đa nguồn vốn, doanh nghiệp toàn ngành khó có thể thu mua hết lượng hàng hóa khổng lồ này.
Ông Việt Anh cho biết thêm, hiện nay một số nông dân có năng lực về vốn và kho chứa đã chủ động dự trữ trong bối cảnh giá lúa xuống thấp như hiện nay. Tuy nhiên, xét về góc độ vĩ mô toàn vùng, ông mong muốn có một hệ thống kho chứa đủ lớn để nông dân gửi lúa vào, khi được giá sẽ bán ra. Chỉ khi bà con chủ động quyết định thời điểm bán, câu chuyện "được mùa rớt giá" sẽ không tái diễn.
Ông Vương Quốc Nam, Phó Chủ tịch UBND TP Cần Thơ nhấn mạnh vai trò quan trọng của Bộ Nông nghiệp và Môi trường trong việc đề xuất các giải pháp dài hạn. Đáng chú ý là việc mở rộng chức năng của Quỹ dự trữ Nhà nước, không chỉ phục vụ mục đích an ninh lương thực mà còn tham gia điều tiết thị trường theo hướng thương mại.
Bên cạnh đó, việc đẩy nhanh triển khai Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao cũng được kỳ vọng tạo ra bước chuyển lớn cho ngành. Khi sản xuất được chuẩn hóa, gắn với nhu cầu thị trường, doanh nghiệp sẽ giảm bớt rủi ro về chất lượng, còn nông dân có cơ hội nâng cao giá trị sản phẩm.
Một câu chuyện khác là câu chuyện thương hiệu, dù được nhắc đến nhiều, nhưng vẫn rất khó triển khai. Thực tế, phần lớn gạo Việt Nam vẫn đang xuất khẩu theo hình thức OEM - gia công, đóng gói dưới thương hiệu của nhà nhập khẩu. Điều này đồng nghĩa doanh nghiệp Việt gần như không kiểm soát được khâu phân phối cuối cùng.
Nếu muốn đi ngược lại câu chuyện này, đặt thương hiệu Gạo Việt Nam vào thị trường quốc tế, Tổng Giám đốc ORICO Nguyễn Việt Anh cho rằng, doanh nghiệp phải giải quyết đồng thời bài toán phân phối bán lẻ, tồn kho và hiểu biết thị trường bản địa. Điều này, đòi hỏi nguồn lực rất lớn và rủi ro cao.
Ông Việt Anh cho biết, doanh nghiệp lúa gạo Việt Nam được đánh giá là năng động và có khả năng thích ứng cao. Tuy nhiên, việc thâm nhập các thị trường cao cấp như EU, Hoa Kỳ hay Nhật Bản vẫn còn nhiều rào cản, đặc biệt là tiêu chuẩn về dư lượng thuốc bảo vệ thực vật.
Mô hình thâm canh 3 vụ/năm, dù giúp tăng sản lượng, lại vô tình tạo ra áp lực về môi trường và chất lượng. Nhiều doanh nghiệp đã từng xuất khẩu vào các thị trường khó tính nhưng bị trả hàng, phải chịu chi phí rất lớn. Điều này cho thấy, nếu không điều chỉnh từ gốc, tức là xây dựng quy trình sản xuất riêng, việc nâng cấp thị trường chỉ mang tính ngắn hạn.
Trong khi đó, các thị trường truyền thống và đang phát triển như châu Phi sẽ mở ra nhiều cơ hội cho xuất khẩu gạo Việt Nam, nhưng cũng tiềm ẩn rủi ro về thanh toán và hệ thống phân phối.
Theo ông Đỗ Hà Nam, Chủ tịch Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), các quốc gia như Bờ Biển Ngà hay Ghana đang trở thành cửa ngõ đưa gạo Việt vào sâu trong lục địa. Người tiêu dùng tại đây ưa chuộng gạo Việt vì chất lượng mềm, thơm, nhưng doanh nghiệp phải chấp nhận gắn thương hiệu của đối tác. Do đó, muốn nâng cao giá trị, doanh nghiệp lúa gạo Việt Nam cần từng bước xây dựng hệ thống phân phối riêng.
Trong bối cảnh "bão giá" hiện nay, giải pháp Hiệp hội Lương thực Việt Nam đưa ra là Ngân hàng Nhà nước có chính sách ưu đãi lãi suất (5 - 7%) cho doanh nghiệp có hợp đồng thu mua tạm trữ, giúp ổn định giá lúa và đưa doanh nghiệp vượt qua sức ép của thị trường ngoài nước.
Đồng thời, Hiệp hội Lương thực Việt Nam cũng như cộng đồng doanh nghiệp ngành lúa gạo sẽ đồng hành cùng Bộ Nông nghiệp và Môi trường tham gia các chương trình xúc tiến thương mại, theo dõi sát thông tin thị trường để có chiến lược sản xuất kinh doanh phù hợp trong bối cảnh hiện nay.
Ngành gia cầm cam kết duy trì nguồn cung ổn định, giá bán hợp lý
TS. Nguyễn Thanh Sơn, Chủ tịch Hiệp hội Gia cầm Việt Nam khẳng định, lời kêu gọi của Bộ trưởng Trần Đức Thắng về tinh thần "lợi ích hài hòa, rủi ro chia sẻ" đang được các doanh nghiệp hội viên của Hiệp hội Gia cầm Việt Nam cụ thể hóa qua nhiều hành động thiết thực trong bối cảnh xung đột Trung Đông gây áp lực lên chi phí sản xuất.
Thứ nhất, ổn định và giảm chi phí vận hành. Nhiều doanh nghiệp lớn trong Hiệp hội đã chủ động thực hiện các biện pháp để kìm hãm đà tăng giá như tiết giảm chi phí vận hành. Các doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi và thuốc thú y đang nỗ lực tối ưu hóa quy trình, cắt giảm các chi phí trung gian để giữ ổn định hoặc giảm giá bán cho người chăn nuôi.
Thứ hai, cam kết đồng hành. Các đơn vị như: Công ty Cổ phần Tập đoàn C.P. Việt Nam, Công ty Cổ phần Tập đoàn Dabaco Việt Nam, De Heus Việt Nam, Tập đoàn Hùng Nhơn, Công ty TNHH Giống Gia cầm Minh Dư, Công ty Cổ phần Tập đoàn Tafa Việt, Công ty TNHH Olmix Asialand Việt Nam, Công ty Cổ phần Nông nghiệp Kỷ Nguyên Xanh, Công ty TNHH Thuốc Thú y Á Châu, Công ty VMC Việt Nam, Công ty Cổ phần Thú y Xanh (Greenvet), Công ty Cổ phần Dược và vật tư Thú y (Hanvet)... tham gia cam kết duy trì nguồn cung ổn định, giá bán hợp lý, hạn chế tối đa việc chuyển toàn bộ áp lực chi phí logistics sang giá thành sản phẩm đầu ra cho doanh nghiệp hội viên và nông dân.
Thứ ba, thúc đẩy giao thương nội khối. Theo đó, Hiệp hội đóng vai trò kết nối để các doanh nghiệp hợp tác chặt chẽ với nhau, ưu tiên sử dụng sản phẩm nội khối, khuyến khích các trang trại, hộ chăn nuôi hội viên sử dụng con giống, thức ăn từ các doanh nghiệp sản xuất trong cùng Hiệp hội với mức giá ưu đãi hơn thị trường.
Thứ tư, xây dựng chuỗi giá trị khép kín. Đẩy mạnh liên kết ngang giữa các doanh nghiệp trong các khâu sản xuất giống, thức ăn, giết mổ và phân phối để giảm thiểu các tầng nấc trung gian, giúp giảm chi phí đầu vào ít nhất 10%.
Thứ năm, hỗ trợ trực tiếp và chia sẻ rủi ro thị trường. Các doanh nghiệp cam kết duy trì việc thu mua gia cầm thương phẩm cho các hộ liên kết ngay cả khi thị trường biến động hoặc cung vượt cầu, nhằm tránh tình trạng "được mùa mất giá".
Để giúp ngành gia cầm trụ vững trước các cú sốc từ xung đột địa chính trị và chi phí đầu vào tăng cao, từ góc độ Hiệp hội, TS. Nguyễn Thanh Sơn tập trung kiến nghị 4 nhóm chính sách cốt lõi.
Thứ nhất, cần có gói tín dụng đặc thù. Kiến nghị Chính phủ chỉ đạo các ngân hàng thương mại triển khai gói vay ưu đãi lãi suất, thấp hơn 2 - 3% so với mặt bằng chung, dành riêng cho hộ chăn nuôi và doanh nghiệp gia cầm để duy trì sản xuất. Hiện nay mặt bằng lãi suất vay quá cao. Cho phép gia hạn nợ, giữ nguyên nhóm nợ đối với các doanh nghiệp đang gặp khó khăn tạm thời do chi phí logistics và thức ăn tăng vọt, tránh đứt gãy dòng vốn sản xuất.
Thứ hai, đẩy nhanh cải cách thủ tục hành chính, đặc biệt trong lĩnh vực kiểm dịch, xuất nhập khẩu và đăng ký lưu hành sản phẩm chăn nuôi, tạo điều kiện cho doanh nghiệp mở rộng thị trường.
Thứ ba, kiểm soát nhập khẩu. Siết chặt kiểm dịch và hàng rào kỹ thuật đối với thịt gà nhập khẩu giá rẻ, nội tạng trắng không rõ nguồn gốc tràn qua biên giới để bảo vệ sản xuất trong nước.
Thứ tư, Chính phủ cần có cơ chế hỗ trợ chi phí vận chuyển nội địa hoặc ưu tiên cho các mặt hàng nông sản thiết yếu, nhằm bù đắp phần nào sự gia tăng của cước vận tải biển quốc tế.
Doanh nghiệp ngành phân bón đang cân nhắc kỹ lưỡng về giá
Trong bối cảnh giá phân bón tăng cao trên toàn cầu do xung đột Trung Đông và nhiều nước sản xuất lớn hạn chế xuất khẩu, giá nhiều loại phân bón ở Việt Nam cũng đã tăng trong những ngày qua. Trong khi đó, giá nhiều loại nông sản chủ lực lại đang có xu hướng giảm. Đáng lo ngại nhất là giá lúa khi đang ở mức thấp.
Trước tình hình ấy, một số doanh nghiệp phân bón hàng đầu đã có những hành động thiết thực để chia sẻ cùng khó khăn của người nông dân, trong đó có Công ty Cổ phần Phân bón Bình Điền.
Ông Phan Văn Tâm, Phó Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Phân bón Bình Điền cho biết, cho đến ngày 25/3/2026, dù nhiều loại phân bón trên thị trường đã tăng giá, Bình Điền vẫn giữ nguyên giá các loại phân bón của công ty, không có sự thay đổi so với cuối năm 2025.
Sở dĩ Bình Điền có thể giữ được giá phân bón cho đến tận ngày 25/3 là do nhờ mối quan hệ tốt với các đối tác truyền thống, công ty đã chuẩn bị được nguồn nguyên liệu chất lượng tốt với giá ổn định, đảm bảo sản xuất và cung ứng cho nhu cầu thị trường trong cả quý 1/2026.
Bắt đầu từ 26/3, do nguồn nguyên liệu cũ đã cạn, Bình Điền phải sản xuất từ nguồn nguyên liệu mới vốn đã tăng giá khá nhiều do ảnh hưởng của xung đột Trung Đông.
Tuy nhiên, để chia sẻ với khó khăn của nông dân vào thời điểm này, Bình Điền đã tính toán, cân nhắc rất kỹ và sẽ chỉ tăng giá từ 5 - 10%. Đây là nỗ lực rất lớn của Bình Điền khi mà giá nhiều loại nguyên liệu đã tăng rất mạnh (giá urê từ khoảng 12.000 đồng/kg tăng lên 18.000 đồng/kg, tức là tăng tới 50%).
Đồng thời, Bình Điền đẩy mạnh hỗ trợ nông dân các giải pháp canh tác tốt nhằm giúp nông dân sử dụng phân bón một cách tiết kiệm, có hiệu quả cao hơn so với trước đây. Thực tế cho thấy, khi nông dân tiếp cận và áp dụng bài bản phương pháp canh tác tốt, sẽ giảm được khoảng 20% lượng phân bón trên đồng ruộng. Mức giảm này có ý nghĩa rất lớn, nhất là khi giá phân bón tăng.
Một số doanh nghiệp phân bón khác cũng đang cân nhắc rất kỹ lưỡng khi bắt buộc phải tăng giá phân bón trong thời điểm này để có thể chia sẻ với những khó khăn của nông dân.
Ông Vũ Đình Tuấn, Trưởng phòng kinh doanh Đạm Cà Mau, chia sẻ: "Về đầu ra, chúng tôi cũng sẽ phải có những điều chỉnh giá bán cho phù hợp. Tuy nhiên, nếu chúng tôi đưa mặt bằng giá của doanh nghiệp theo mặt bằng giá thế giới thì rất tội cho người nông dân. Bởi vì giá lúa gạo, đặc biệt là tại Tây Nam Bộ, đang gần như không tăng và duy trì ở mức rất thấp. Cho nên khi xác định tăng giá thì chúng tôi cũng cân nhắc rất kỹ. Bởi vì nó sẽ tác động đến hiệu quả canh tác của người nông dân".
Doanh nghiệp giống cây trồng tiết giảm chi phí, chấp nhận giảm lợi nhuận
Ông Trần Xuân Định, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Thương mại Giống cây trồng Việt Nam (VSTA) cho biết, đối với ngành giống cây trồng, hoạt động sản xuất - kinh doanh và vận chuyển mang tính mùa vụ rõ rệt. Vì vậy, tác động từ xung đột Trung Đông ở thời điểm hiện tại chưa ảnh hưởng nhiều đến chuỗi sản xuất giống lúa trong nước. Nguyên nhân là cao điểm thu mua, chế biến, lưu thông và cung ứng giống cho các tỉnh phía bắc, miền Trung và Tây Nguyên hơn 1 tháng nữa mới bắt đầu.
Tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, vụ đông xuân đang trong giai đoạn thu hoạch, còn vụ hè thu mới khởi động. Điều này giúp sản xuất trong nước phần nào "tránh" được thời điểm căng thẳng nhất của thị trường. Kỳ vọng là khi bước vào cao điểm mùa vụ, tình hình giá cả và logistics sẽ dần ổn định trở lại.
Dù vậy, một số tác động vẫn hiện hữu, đặc biệt ở khâu nhập khẩu. Biến động tỷ giá, chi phí vận chuyển và bảo hiểm tăng có thể làm đội giá thành hạt giống khi đến tay nông dân. Điều này đáng lưu ý với nhóm hạt giống rau, khi Việt Nam hiện vẫn phải nhập khẩu khoảng 75 - 85%.
Trước những khó khăn hiện nay, các doanh nghiệp hội viên của VSTA sẽ chủ động tiết giảm chi phí, tối ưu ở tất cả các khâu trong chuỗi sản xuất nhằm ổn định giá thành, chấp nhận giảm lợi nhuận để giữ ổn định thị trường.
Trong "cái khó ló cái khôn", trong thách thức mở cơ hội, đây là thời điểm để doanh nghiệp nâng cao năng lực quản trị sản xuất, quản trị bán hàng; cải tiến quy trình, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, thậm chí trí tuệ nhân tạo vào nghiên cứu, sản xuất và kinh doanh giống cây trồng. Đồng thời, việc tái cấu trúc kênh phân phối, cắt giảm khâu trung gian sẽ góp phần đưa giá hạt giống đến tay nông dân ở mức hợp lý hơn.
Tuy nhiên, để ngành giống cây trồng Việt Nam nâng cao năng lực tự chủ, ông Định đề xuất, cần phải có một chiến lược phát triển và hiện đại hóa ngành hạt giống mang tầm nhìn dài hạn.
Trước hết, các Bộ, ngành cần xác định rõ vai trò của giống, hạt giống như một "khâu đột phá" trong chuỗi sản xuất ngành trồng trọt, với tầm nhìn 10, 20, 30 năm. Đồng thời, cần tăng cường năng lực dự báo, đánh giá tác động từ các yếu tố trong và ngoài nước nhằm đảm bảo cân đối cung - cầu và an ninh ngành giống, hướng tới phát triển ổn định, bền vững.
Thứ hai, đẩy mạnh nghiên cứu chọn tạo giống. Khoa học công nghệ trong chọn tạo giống hiện đang phát triển khá nhanh với những kết quả thành công vượt sức mong đợi, vì vậy Việt Nam cần chủ động đầu tư, đi trước đón đầu, tận dụng hiệu quả các công nghệ mới như giống chỉnh sửa gen, giống chống chịu bất thuận, giống chất lượng cao, giống ưu thế lai và các công nghệ cố định ưu thế lai.
Thứ ba, chú trọng đầu tư cho công nghệ sau thu hoạch, đặc biệt là chế biến, bảo quản và đóng gói hạt giống, nhằm nâng cao chất lượng và giảm hao hụt trong chuỗi cung ứng.
Thứ tư, về chính sách và thể chế, cần xem xét điều chỉnh nguồn lực đầu tư cho Chương trình giống quốc gia; cải tiến quy trình, thủ tục nghiên cứu theo hướng tinh gọn, linh hoạt hơn, áp dụng cơ chế khoán và đặt hàng. Đồng thời, cần cân đối hợp lý vai trò giữa khu vực công và khu vực tư nhân, tiếp tục duy trì các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp tham gia sản xuất giống gốc, giống siêu nguyên chủng theo định hướng của Chương trình giống giai đoạn 2021 - 2030.
Thứ năm, tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp lý, rà soát, sửa đổi các quy định liên quan như Luật Trồng trọt và các văn bản hướng dẫn, nhằm tạo môi trường thông thoáng, thuận lợi hơn cho doanh nghiệp đầu tư vào nghiên cứu, sản xuất và kinh doanh giống cây trồng.
Theo Chinhphu.vn
- Cùng chuyên mục
Thị trường vay tiêu dùng khởi sắc nhờ công nghệ số và liên kết bán lẻ
Thị trường cho vay tiêu dùng đang ghi nhận những tín hiệu tăng trưởng tích cực trong những tháng đầu năm 2026 khi các ngân hàng, công ty tài chính và hệ thống bán lẻ đẩy mạnh hợp tác nhằm mở rộng dịch vụ tới người dân.
Kinh tế - 06:18 13/05/2026
Hải quan thử nghiệm mô hình ‘một đầu mối’ xử lý thủ tục xuất nhập khẩu
Sau hơn 10 năm vận hành hệ thống VNACCS/VCIS, ngành Hải quan tiếp tục cải cách mạnh với mô hình thông quan tập trung nhằm tinh gọn thủ tục, việc tiếp nhận và kiểm tra hồ sơ sẽ được thực hiện tập trung tại một đầu mối.
Kinh tế - 14:34 12/05/2026
Singapore mở rộng nhu cầu nhập khẩu: Cơ hội lớn cho gạo, thủy sản và đặc sản Việt Nam
Singapore đang nổi lên là một trong những thị trường tiềm năng hàng đầu đối với nông sản, thực phẩm và hàng tiêu dùng chất lượng cao của Việt Nam. Với nhu cầu nhập khẩu mỗi năm lên tới hàng tỷ đô la Singapore cho các mặt hàng gạo, thủy sản, thịt và thực phẩm chế biến, quốc đảo này được đánh giá là “cửa ngõ” quan trọng để hàng Việt mở rộng hiện diện tại khu vực ASEAN và thị trường quốc tế.
Kinh tế - 06:25 12/05/2026
Logistics xanh: Cuộc chuyển đổi không thể chậm chân
Áp lực từ các tiêu chuẩn ESG, truy xuất carbon hay yêu cầu giảm phát thải từ đối tác quốc tế đang buộc nhiều doanh nghiệp logistics Việt Nam bước vào một cuộc chuyển đổi chưa từng có. Từ thay thế nhiên liệu diesel bằng LNG, đầu tư xe điện, kho xanh đến ứng dụng AI trong quản trị chuỗi cung ứng, logistics xanh đang dần trở thành điều kiện bắt buộc nếu doanh nghiệp muốn tiếp tục tham gia sân chơi toàn cầu.
Kinh tế - 13:21 11/05/2026
Hướng dẫn điều chỉnh hợp đồng xây dựng trong 'bão giá' vật liệu
Với kịch bản giá nhiên liệu tăng 100% riêng các công trình giao thông trọng điểm, chi phí xây dựng ước tăng khoảng 42.300 tỷ đồng, đây là một áp lực rất lớn lên ngân sách Nhà nước. Bộ Xây dựng đã đề nghị các địa phương căn cứ vào quy định pháp luật đã có để hướng dẫn chủ đầu tư, nhà thầu điều chỉnh đơn giá hợp đồng xây dựng, tháo gỡ khó khăn cho nhà thầu.
Kinh tế - 09:28 11/05/2026
Nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế: Tạo dư địa lớn cho kinh tế cá thể phát triển
Việc nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế với hộ kinh doanh từ 500 triệu lên trên 1 tỷ đồng/năm được đánh giá là điều chỉnh kịp thời, sát thực tiễn, giúp giảm gánh nặng chi phí, áp lực tuân thủ và tạo động lực cho kinh tế cá thể phục hồi, phát triển bền vững trong bối cảnh mới.
Kinh tế - 09:32 07/05/2026
Tìm ‘đòn bẩy’ tăng trưởng xuất khẩu trong tình hình mới
Trước những biến động của thị trường toàn cầu, TP. Hà Nội đang triển khai nhiều giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp tận dụng FTA, đa dạng hóa thị trường và đẩy mạnh xúc tiến thương mại nhằm duy trì đà tăng trưởng xuất khẩu.
Kinh tế - 08:59 05/05/2026
Vốn FDI thực hiện cao nhất so với cùng kỳ 5 năm qua
Trong 4 tháng đầu năm 2026, dòng vốn đầu tư nước ngoài tiếp tục là điểm sáng. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện tại Việt Nam 4 tháng ước đạt 7,40 tỉ USD, tăng 9,8% so với cùng kỳ năm trước. Đây là số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện cao nhất của cùng kỳ năm trong 5 năm qua.
Kinh tế - 08:51 04/05/2026
Bắc Ninh: Giá trị sản xuất công nghiệp tháng 4 ước đạt 277 nghìn tỷ đồng
Theo Thống kê Bắc Ninh, tháng 4, sản xuất công nghiệp ghi nhận mức tăng khá so với cùng kỳ, tiếp tục đóng vai trò chủ đạo cho tăng trưởng kinh tế của tỉnh Bắc Ninh.
Kinh tế - 05:47 04/05/2026
Logistics Việt Nam trước áp lực biến động: Chuyển xanh để giữ đà tăng trưởng
Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu tiềm ẩn nhiều bất ổn, ngành logistics đang chịu tác động trực tiếp từ những cú sốc địa chính trị và biến động năng lượng. Tại Việt Nam, áp lực này càng rõ nét khi chi phí vận tải tăng cao, chuỗi cung ứng đối mặt nguy cơ gián đoạn. Trước tình hình đó, chuyển đổi xanh không còn là lựa chọn mang tính xu hướng, mà đã trở thành yêu cầu cấp thiết để ngành logistics duy trì tăng trưởng và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Kinh tế - 07:39 01/05/2026
- Tin mới
-
Thiên Quân Group: Công bố ra thị trường hơn 1.400 sản phẩm
-
Lào Cai thúc đẩy công nghiệp nông thôn bằng chương trình khuyến công năm 2026
-
Hải Phòng: Tuyên truyền, phổ biến quy định của Nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
-
Phiên giao dịch chiều 15/5: Biến động mạnh trong phiên ATC, nhóm năng lượng dậy sóng
-
Mùa ROXMei 30 ngập tràn năng lượng tại ROX Group
-
Bộ Nội vụ thúc tiến độ sắp xếp đơn vị sự nghiệp công lập, hoàn thành trong quý III
- Đọc nhiều
-
1
Siết trách nhiệm nền tảng số trước làn sóng hàng giả trực tuyến
-
2
Thu hồi toàn quốc lô thuốc nhỏ mắt Natri clorid 0,9% của công ty Pharmedic
-
3
Bưởi, chanh Việt Nam rộng cửa vào thị trường Trung Quốc
-
4
Chuyển đổi số toàn diện, tạo thuận lợi tối đa cho người dân, doanh nghiệp
-
5
Công bố 22 Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XVI
-
6
Vingroup lập VinSurgical, tăng tốc tham vọng robot phẫu thuật và y tế thông minh












