Tín dụng gần 150% GDP, Việt Nam cần thêm “đường dẫn” vốn dài hạn

07:39 04/10/2026

Dư nợ tín dụng ngân hàng tại Việt Nam đã xấp xỉ 150% GDP, trong khi trái phiếu doanh nghiệp mới tương đương khoảng 11% GDP. Khi nhu cầu vốn cho hạ tầng và tăng trưởng được dự báo tăng mạnh, các chuyên gia cho rằng Việt Nam cần phát triển mạnh hơn thị trường trái phiếu, cổ phiếu và các nguồn vốn dài hạn để giảm áp lực lên hệ thống ngân hàng.

Tín dụng áp đảo trong cấu trúc vốn

Việt Nam đang đặt mục tiêu duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế cao trong 5 năm tới, hướng tới mức tăng trưởng hai chữ số. Mục tiêu này kéo theo nhu cầu vốn rất lớn cho đầu tư hạ tầng, sản xuất, kinh doanh và phát triển các ngành kinh tế mới.

Tuy nhiên, cấu trúc huy động vốn hiện nay vẫn cho thấy sự phụ thuộc lớn vào hệ thống ngân hàng. Quy mô vốn hóa thị trường chứng khoán tương đương khoảng 80% GDP, thị trường trái phiếu khoảng 32% GDP, nhưng riêng trái phiếu doanh nghiệp mới ở mức khoảng 11% GDP. Trong khi đó, dư nợ tín dụng ngân hàng đã xấp xỉ 150% GDP.

Khoảng cách này càng rõ nếu nhìn lại diễn biến tín dụng trong một thập kỷ qua. Tín dụng tại Việt Nam tăng bình quân khoảng 15% mỗi năm. Riêng năm 2025, tốc độ tăng trưởng tín dụng lên tới khoảng 19%.

Những con số trên cho thấy dù thị trường chứng khoán và trái phiếu đã có bước phát triển, ngân hàng vẫn đang giữ vai trò áp đảo trong việc cung cấp vốn cho nền kinh tế.

(Ảnh: Internet)

Tại phiên thảo luận trong khuôn khổ Diễn đàn Chứng khoán châu Á lần thứ 31, bà Tehmina Khan, Chuyên gia Kinh tế trưởng Ngân hàng Thế giới, cho rằng cấu trúc này có thể tạo ra những thách thức lớn hơn khi nhu cầu tài trợ cho hạ tầng và phát triển kinh tế tăng mạnh trong giai đoạn tới.

Theo bà Khan, trong quá khứ, nhu cầu huy động vốn của Chính phủ Việt Nam tương đối thấp nhờ duy trì kỷ luật tài khóa và chính sách tài khóa thận trọng. Tuy nhiên, giai đoạn sắp tới sẽ khác khi yêu cầu đầu tư cho hạ tầng và phát triển ngày càng lớn.

Một chỉ báo đáng chú ý khác là tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi của hệ thống ngân hàng đã lên khoảng 115%, thuộc nhóm cao tại khu vực Đông Á.

Điều này đặt ra câu hỏi lớn hơn về khả năng hệ thống ngân hàng tiếp tục đáp ứng toàn bộ nhu cầu vốn của nền kinh tế trong một chu kỳ tăng trưởng mới.

Ngân hàng không thể “gánh” toàn bộ vốn dài hạn

Theo ông Ngô Thế Triệu, Phó Tổng thư ký Hiệp hội Thị trường Trái phiếu Việt Nam, Tổng Giám đốc Optima Wealth Partners, không có một tỷ lệ cố định giữa vốn ngân hàng, trái phiếu và cổ phiếu phù hợp cho mọi nền kinh tế.

Điều quan trọng là mỗi loại rủi ro cần được đặt vào bảng cân đối của tổ chức có khả năng hấp thụ loại rủi ro đó.

Theo ông Triệu, ngân hàng chủ yếu huy động nguồn vốn có kỳ hạn tương đối ngắn, trong khi nhiều dự án và nhu cầu đầu tư của nền kinh tế có thời gian hoàn vốn kéo dài 10-20 năm.

“Nếu chúng ta bắt hệ thống ngân hàng dùng nguồn vốn ngắn hạn này để gánh toàn bộ nhu cầu vốn dài hạn 10-20 năm của nền kinh tế, hệ thống sẽ bị quá tải”, ông Triệu nhận định.

Ông cũng dẫn các đánh giá của tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc tế cho rằng tỷ lệ tín dụng trên GDP của Việt Nam hiện cao gấp khoảng 3 lần mức trung bình của các quốc gia cùng nhóm xếp hạng tín nhiệm BBB.

Theo chuyên gia này, đây là một trong những lý do Việt Nam cần đa dạng hóa cơ sở nhà đầu tư và phát triển mạnh hơn các kênh vốn dài hạn.

Cùng quan điểm, bà Tehmina Khan cảnh báo nếu phần lớn nhu cầu vốn dài hạn của Chính phủ và nền kinh tế tiếp tục tập trung vào ngân hàng, nguy cơ “lấn át” nguồn vốn dành cho khu vực tư nhân có thể gia tăng.

Trong khi đó, dòng vốn hiện vẫn tập trung đáng kể vào đầu tư công và bất động sản, thay vì phân bổ mạnh hơn cho các khu vực như doanh nghiệp vừa và nhỏ, chế biến chế tạo hay công nghệ thông tin.

Theo chuyên gia Ngân hàng Thế giới, bài toán đặt ra không phải là thay thế ngân hàng bằng một kênh khác mà là tổ chức lại hệ thống dẫn vốn để tiền tiết kiệm trong nền kinh tế có thể đến đúng nơi cần vốn một cách hiệu quả hơn.

Ngân hàng vẫn sẽ là trụ cột của hệ thống tài chính, nhưng đồng thời Việt Nam cần phát triển mạnh hơn thị trường trái phiếu doanh nghiệp, thị trường cổ phiếu và các sản phẩm vốn dài hạn ở cả thị trường sơ cấp và thứ cấp.

Mở thêm “đường dẫn” vốn cho hạ tầng

Theo ông Ngô Thế Triệu, ngân hàng vẫn có lợi thế lớn trong giai đoạn đầu của một dự án, đặc biệt là khi dự án đang xây dựng và cần thẩm định, giám sát tiến độ cũng như giải ngân vốn.

Tuy nhiên, khi dự án hoàn thành, đi vào vận hành và bắt đầu tạo ra dòng tiền ổn định, vai trò của các nhà đầu tư dài hạn sẽ phù hợp hơn.

Các công ty bảo hiểm nhân thọ, quỹ hưu trí và quỹ quản lý tài sản có lợi thế về nguồn vốn dài hạn, có thể nắm giữ tài sản trong khoảng thời gian tương ứng với vòng đời của dự án.

Theo đó, một phần khoản vay ngân hàng sau khi dự án hoàn thành có thể được chuyển giao cho các nhà đầu tư dài hạn thông qua thị trường vốn. Cách làm này vừa tạo thêm nguồn vốn cho doanh nghiệp, vừa giúp ngân hàng giải phóng nguồn lực để tài trợ cho những dự án mới.

Từ góc độ thị trường vốn, việc đưa các tài sản hạ tầng đã hoàn thành và có dòng tiền ra thị trường thông qua trái phiếu hoặc các công cụ tài chính phù hợp cũng giúp tạo thêm hàng hóa cho nhà đầu tư tổ chức.

Ông Triệu cho rằng trái phiếu hạ tầng và trái phiếu dự án cần được ưu tiên phát triển. Việt Nam hiện đã có nhiều tài sản hạ tầng hoàn thành và tạo dòng tiền, từ các dự án điện mặt trời, điện gió đến đường cao tốc BOT và cảng biển quốc tế.

Những tài sản này có thể trở thành nền tảng để hình thành các sản phẩm trái phiếu dài hạn, qua đó thu hút nguồn vốn từ các nhà đầu tư tổ chức.

Bên cạnh trái phiếu hạ tầng, chuyên gia đề cập ba nhóm công cụ có thể mở rộng trong thời gian tới.

Một là trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh. Theo ông Triệu, xét trên phương diện nợ công trực tiếp, Việt Nam vẫn còn dư địa so với nhiều quốc gia cùng nhóm xếp hạng tín nhiệm BBB, qua đó có thể xem xét huy động thêm nguồn vốn cho các dự án trọng điểm.

Hai là trái phiếu dự án theo phương thức đối tác công tư. Với những dự án có cơ chế chia sẻ doanh thu và rủi ro rõ ràng giữa Nhà nước và khu vực tư nhân, đây có thể trở thành sản phẩm phù hợp với các nhà đầu tư dài hạn.

Ba là trái phiếu chính quyền địa phương. Kênh này đang được quan tâm tại Hà Nội và TP.HCM trong bối cảnh hai đô thị lớn có nhu cầu vốn rất lớn cho phát triển hạ tầng và được trao thêm một số cơ chế chính sách đặc thù.

Giảm áp lực cho ngân hàng, tăng vai trò thị trường vốn

Theo các chuyên gia, khi Việt Nam bước vào một chu kỳ đầu tư mới với nhu cầu vốn ngày càng lớn, cấu trúc tài chính cũng cần thay đổi theo hướng cân bằng hơn giữa tín dụng ngân hàng và thị trường vốn.

Điều này không đồng nghĩa với việc vai trò của ngân hàng suy giảm. Ngược lại, nếu một phần nhu cầu vốn dài hạn được chuyển sang thị trường trái phiếu, bảo hiểm, quỹ hưu trí và các nhà đầu tư tổ chức, ngân hàng sẽ có thêm dư địa để tiếp tục tài trợ cho các dự án mới.

Trong khi đó, thị trường vốn có thêm sản phẩm và nguồn vốn dài hạn, giúp nâng cao khả năng huy động và phân bổ nguồn lực của nền kinh tế.

Về dài hạn, việc phát triển đồng thời tín dụng ngân hàng, thị trường cổ phiếu và thị trường trái phiếu sẽ giúp Việt Nam giảm sự phụ thuộc vào một kênh huy động vốn duy nhất.

Đây cũng là điều kiện quan trọng để thị trường chứng khoán và trái phiếu từng bước đảm nhận vai trò lớn hơn trong việc dẫn vốn vào các lĩnh vực sản xuất, công nghệ, doanh nghiệp vừa và nhỏ và các dự án hạ tầng có khả năng tạo dòng tiền.

Khi nhu cầu vốn cho tăng trưởng ngày càng lớn, bài toán của Việt Nam không chỉ là huy động thêm bao nhiêu tiền mà còn là đưa nguồn vốn đó đến đúng nơi, đúng kỳ hạn và đúng mức độ rủi ro. Đây sẽ là yếu tố quyết định hiệu quả của chu kỳ đầu tư mới và khả năng duy trì tăng trưởng cao trong những năm tới.

Thảo Phương (t/h)

  • Cùng chuyên mục

Lịch chốt cổ tức tuần 5-9/10: Cao nhất 6.500 đồng/cp

Tuần giao dịch từ 5-9/10, hàng loạt doanh nghiệp trên sàn chứng khoán sẽ chốt quyền nhận cổ tức năm 2025. Đáng chú ý, Bột giặt NET trả cổ tức tiền mặt tỷ lệ 65%, tương đương 6.500 đồng/cổ phiếu, trong khi MWG chi khoảng 1.500 tỷ đồng và SHS dự kiến chi gần 450 tỷ đồng cho cổ đông.

Tài chính - 06:59 04/10/2026

Nợ xấu ngân hàng: Nhìn tỷ lệ NPL chưa đủ để đánh giá sức khỏe

Tỷ lệ nợ xấu là chỉ báo quan trọng về chất lượng tài sản, nhưng diễn biến nợ xấu hình thành, khả năng thu hồi, xử lý nợ và bộ đệm dự phòng mới giúp nhìn rõ hơn sức khỏe của từng ngân hàng.

Tài chính - 10:07 02/10/2026

PVcomBank huy động vốn với lãi suất trái phiếu lên 10,5%/năm

PVcomBank vừa phát hành lô trái phiếu kỳ hạn 10 năm với lãi suất 10,5%/năm, cao nhất trong nhóm trái phiếu ngân hàng được ghi nhận thời gian gần đây. Trong quý III/2026, ngân hàng này đã phát hành 7 lô trái phiếu với tổng giá trị 4.000 tỷ đồng, đều có lãi suất từ 9,6%/năm.

Tài chính - 09:29 02/10/2026

Ngân hàng được áp dụng trần LDR 95%

Thông tư 50/2026/TT-NHNN có hiệu lực từ ngày 1/12/2026, thay đổi cách tính tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi (LDR) và bổ sung lộ trình áp dụng hai chỉ tiêu thanh khoản mới là LCR, NSFR. Đáng chú ý, trần LDR được quy định ở mức 95%, cao hơn mức 85% theo khuôn khổ hiện hành, nhưng việc áp dụng còn gắn với lộ trình chuyển đổi sang các chuẩn thanh khoản mới.

Tài chính - 15:36 01/10/2026

HDBank chốt cổ tức 30%, vốn điều lệ vượt 65.000 tỷ đồng

HDBank sẽ chia cổ tức năm 2025 bằng cổ phiếu tỷ lệ 25% và phát hành cổ phiếu thưởng tỷ lệ 5%, qua đó đưa vốn điều lệ dự kiến lên hơn 65.069 tỷ đồng. Ngân hàng đồng thời chuẩn bị phương án chào bán riêng lẻ 700 triệu cổ phiếu, hướng tới nâng vốn điều lệ lên hơn 72.000 tỷ đồng.

Tài chính - 08:52 01/10/2026

Tỷ giá USD hôm nay 1/10: Ổn định ở mức 25.627 đồng/USD

Tỷ giá hôm nay 1/10/2026 ghi nhận tỷ giá trung tâm tại Ngân hàng Nhà nước ổn định ở mức 25.627 đồng/USD. Giá bán USD tại các ngân hàng thương mại lớn hầu hết ổn định, mức cao nhất đạt được là 26.160 đồng/USD. Chỉ số USD index đạt 101,38 điểm.

Tài chính - 06:06 01/10/2026

Tỷ giá USD/VND hạ nhiệt cuối tháng, nguồn cung ngoại tệ tạo điểm tựa

Sau những nhịp tăng do tác động từ chính sách tiền tệ toàn cầu, tỷ giá USD/VND đã hạ nhiệt về cuối tháng 9. Dòng vốn FDI, hoạt động xuất nhập khẩu cùng các nguồn cung ngoại tệ khác đang tạo thêm dư địa để thị trường hấp thụ các cú sốc từ bên ngoài.

Tài chính - 08:06 30/09/2026

Cake by VPBank cộng thêm lãi suất, mức hưởng tối đa 9,6%/năm

Cake by VPBank đang áp dụng lãi suất niêm yết 7,2%/năm cho tiền gửi kỳ hạn 6-9 tháng và 7,4%/năm cho kỳ hạn 10-24 tháng. Trong chương trình triển khai từ ngày 22/9 đến 31/10/2026, khách hàng đủ điều kiện có thể được cộng thêm tối đa 2,2%/năm, đưa mức lãi suất tương đương lên tới 9,6%/năm.

Tài chính - 07:48 29/09/2026

PVcomBank chào bán cổ phiếu cao hơn 62% thị giá

PVcomBank vừa chốt giá chào bán riêng lẻ 300 triệu cổ phiếu PCB ở mức 13.628 đồng/cổ phiếu, cao hơn khoảng 62% so với thị giá 8.400 đồng/cổ phiếu. Nếu phát hành thành công, ngân hàng dự kiến thu về khoảng 4.088 tỷ đồng và nâng vốn điều lệ từ 9.000 tỷ đồng lên 12.000 tỷ đồng.

Tài chính - 09:28 28/09/2026

Lịch chốt quyền cổ tức tuần 28/9-2/10: Cao nhất 50%

Trong tuần từ 28/9 đến 2/10, khoảng 24 doanh nghiệp dự kiến chốt quyền cổ tức. Trong đó, gần 21 doanh nghiệp trả cổ tức bằng tiền mặt, tỷ lệ cao nhất lên tới 50%, tương ứng cổ đông nhận 5.000 đồng cho mỗi cổ phiếu.

Tài chính - 06:50 27/09/2026